Một tài sản số đã được sử dụng để bảo đảm khoản vay hoặc nghĩa vụ trả nợ, liệu chủ sở hữu có được tiếp tục dùng chính tài sản đó để đặt cọc cho giao dịch khác? Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, có hiệu lực từ ngày 15/10/2026, đã hướng dẫn về hiệu lực đối kháng với người thứ ba và thứ tự ưu tiên thanh toán khi tài sản đặt cọc được sử dụng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ. Vậy nếu phát sinh tranh chấp, bên nhận đặt cọc hay bên cho vay được ưu tiên xử lý tài sản?

Tài sản số đang bảo đảm khoản nợ có được tiếp tục sử dụng để đặt cọc?
Trong các giao dịch dân sự, một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, chẳng hạn thế chấp tài sản để vay tiền hoặc đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hợp đồng mua bán.
Tuy nhiên, khi một tài sản đã được sử dụng để bảo đảm khoản nợ, việc tiếp tục dùng chính tài sản đó làm tài sản đặt cọc có thể phát sinh tranh chấp về quyền định đoạt và thứ tự ưu tiên thanh toán.
Vấn đề này càng đáng chú ý đối với tài sản số, bởi một số loại tài sản có thể được chuyển giao thông qua hệ thống điện tử hoặc nền tảng công nghệ, khiến việc xác định chủ thể nắm giữ và quyền kiểm soát tài sản trở nên phức tạp.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, tài sản số được đề cập trong các ví dụ về tài sản có thể sử dụng để đặt cọc, bên cạnh cổ phiếu, trái phiếu và những tài sản có giá trị khác.
Tuy nhiên, tài sản đặt cọc phải đáp ứng các điều kiện pháp luật, bao gồm không bị cấm, hạn chế giao dịch, có thể giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng tiền.
Bên cạnh đó, Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép một tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Như vậy, tài sản số đang được sử dụng để bảo đảm khoản nợ không đương nhiên bị cấm tiếp tục dùng để đặt cọc. Tuy nhiên, việc đặt cọc chỉ có thể thực hiện khi đáp ứng các điều kiện về giá trị tài sản, quyền định đoạt, khả năng chuyển giao và những quy định pháp luật có liên quan.
Điều kiện để một tài sản số bảo đảm nhiều nghĩa vụ
Theo Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015, một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ nếu giá trị tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Đồng thời, khi một tài sản được dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản đang được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản.
Đối với tài sản số, việc tiếp tục sử dụng để đặt cọc cần đặc biệt lưu ý những điều kiện sau:
1. Tài sản số phải đáp ứng điều kiện pháp luật
Không phải mọi loại tài sản số đều mặc nhiên được phép sử dụng làm tài sản đặt cọc.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, tài sản đặt cọc phải không bị cấm, hạn chế giao dịch theo quy định pháp luật, có thể giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ và xác định được giá trị bằng tiền.
Do đó, trước khi sử dụng tài sản số để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, cần xác định loại tài sản đó có được phép giao dịch, chuyển giao và sử dụng làm tài sản bảo đảm hay không.
Đặc biệt, đối với tài sản mã hóa, việc giao dịch còn phải tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành. Không thể mặc nhiên kết luận mọi loại tiền mã hóa đều được phép sử dụng để đặt cọc chỉ vì Nghị quyết có đề cập đến tài sản số.
2. Phải xem xét giá trị tài sản và tổng nghĩa vụ được bảo đảm
Theo khoản 1 Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015, một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ nếu giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ví dụ, bên A sở hữu một loại tài sản số hợp pháp có giá trị 1 tỷ đồng và đã sử dụng tài sản này để bảo đảm khoản vay 400 triệu đồng.
Sau đó, A muốn tiếp tục sử dụng chính tài sản đó để đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết một hợp đồng khác.
Khi đó, cần xác định giá trị tài sản, phạm vi nghĩa vụ đã được bảo đảm và nghĩa vụ dự kiến tiếp tục được bảo đảm.
Nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 296 Bộ luật Dân sự và các quy định liên quan, việc sử dụng tài sản để bảo đảm nhiều nghĩa vụ có thể được xem xét.
Tuy nhiên, cần phân biệt quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP về giá trị tài sản đặt cọc với quy định về một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ.
Việc giá trị tài sản đặt cọc có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm không có nghĩa các bên được bỏ qua điều kiện áp dụng đối với trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ.
3. Phải thông báo cho bên nhận đặt cọc về nghĩa vụ đã được bảo đảm
Theo khoản 2 Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015, khi một tài sản được sử dụng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản đó đang được dùng để bảo đảm nghĩa vụ khác.
Ví dụ, A đã sử dụng tài sản số để bảo đảm khoản vay tại một tổ chức tín dụng. Sau đó, A tiếp tục thỏa thuận sử dụng tài sản này để đặt cọc cho B.
Trong trường hợp này, A cần thông báo cho B biết về tình trạng tài sản đang được dùng để bảo đảm khoản nợ trước đó.
Việc che giấu tình trạng pháp lý của tài sản có thể dẫn đến tranh chấp và làm phát sinh trách nhiệm của bên bảo đảm nếu gây thiệt hại.
Ngoài ra, mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Dân sự.
Tài sản số đang thế chấp ngân hàng có thể chuyển cho bên nhận đặt cọc không?
Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý bởi việc một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ không đồng nghĩa với việc chủ sở hữu luôn có quyền tự do chuyển giao tài sản đó.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, tài sản đặt cọc phải có khả năng giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ.
Trong khi đó, đối với tài sản đã được thế chấp hoặc sử dụng trong một biện pháp bảo đảm khác, quyền chuyển giao và định đoạt tài sản có thể chịu sự ràng buộc bởi hợp đồng bảo đảm và quy định pháp luật.
Giả sử A đã sử dụng một loại tài sản số hợp pháp để bảo đảm khoản vay của ngân hàng. Theo thỏa thuận, tài sản được quản lý theo cơ chế mà A không thể tự ý chuyển giao cho bên thứ ba.
Sau đó, A muốn sử dụng chính tài sản này để đặt cọc cho B nhằm bảo đảm việc ký kết hợp đồng mua bán.
Trong trường hợp này, cần xem xét:
- A có quyền tiếp tục định đoạt hoặc chuyển giao tài sản hay không?
- Hợp đồng bảo đảm khoản vay có hạn chế việc sử dụng tài sản cho nghĩa vụ khác không?
- Việc chuyển giao có ảnh hưởng đến quyền của bên nhận bảo đảm trước đó không?
- B có thể nhận và nắm giữ tài sản theo đúng điều kiện của giao dịch đặt cọc không?
Nếu tài sản không thể được giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ theo yêu cầu pháp luật, thỏa thuận sử dụng tài sản đó để đặt cọc có thể phát sinh rủi ro về hiệu lực và khả năng thực hiện.
Vì vậy, quyền tiếp tục sử dụng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ và quyền thực tế chuyển giao tài sản cho bên nhận đặt cọc là hai vấn đề cần được xem xét riêng biệt.
Tài sản số vừa dùng để đặt cọc vừa thế chấp, ai được ưu tiên thanh toán?
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP là hướng dẫn về hiệu lực đối kháng với người thứ ba của đặt cọc.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết, thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của đặt cọc được thực hiện theo quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 4 quy định trường hợp tài sản đặt cọc được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ và đặt cọc phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự ưu tiên thanh toán của bên nhận đặt cọc được thực hiện theo Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật có liên quan.
Theo Điều 308 Bộ luật Dân sự, thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo các trường hợp sau:
Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều có hiệu lực đối kháng với người thứ ba
Nếu các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng.
Điều này có nghĩa, thời điểm xác lập hiệu lực đối kháng là căn cứ quan trọng để xác định bên nào được ưu tiên.
Ví dụ, một tài sản được sử dụng để bảo đảm khoản vay và đồng thời bảo đảm nghĩa vụ đặt cọc. Nếu cả hai biện pháp bảo đảm đều có hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thứ tự ưu tiên được xem xét theo thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng của từng biện pháp.
Do đó, không thể chỉ dựa vào thời điểm ký hợp đồng hoặc thời điểm phát sinh khoản nợ để kết luận bên nào được ưu tiên thanh toán.
Trường hợp chỉ một biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng
Nếu một biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, còn biện pháp bảo đảm khác chưa phát sinh hiệu lực đối kháng, nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng được ưu tiên thanh toán.
Ví dụ, tài sản đã được sử dụng để bảo đảm khoản vay và biện pháp bảo đảm này có hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
Sau đó, tài sản tiếp tục được sử dụng để đặt cọc nhưng giao dịch đặt cọc chưa phát sinh hiệu lực đối kháng.
Nếu phải xử lý tài sản để thực hiện các nghĩa vụ, bên nhận bảo đảm có hiệu lực đối kháng được ưu tiên thanh toán theo quy định.
Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều chưa có hiệu lực đối kháng
Nếu các biện pháp bảo đảm đều chưa phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.
Tuy nhiên, Điều 308 Bộ luật Dân sự cũng cho phép các bên cùng nhận bảo đảm thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán. Việc thay đổi này phải tuân thủ điều kiện pháp luật, đặc biệt không được làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những chủ thể không tham gia thỏa thuận nếu pháp luật không cho phép.
Như vậy, bên nhận đặt cọc không đương nhiên được ưu tiên thanh toán chỉ vì đang nắm giữ tài sản, cũng không phải trong mọi trường hợp ngân hàng đều được ưu tiên hơn bên nhận đặt cọc.
Việc xác định thứ tự ưu tiên phụ thuộc vào hiệu lực đối kháng của từng biện pháp bảo đảm và các quy định pháp luật có liên quan.
Nghị quyết 03/2026 hướng dẫn thế nào về tài sản đặt cọc đồng thời được thế chấp?
Để làm rõ nguyên tắc ưu tiên thanh toán, Điều 4 Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP đưa ra ví dụ về trường hợp một chiếc ô tô vừa được sử dụng làm tài sản đặt cọc vừa được thế chấp để bảo đảm khoản vay.
Theo tình huống được nêu trong Nghị quyết, A đặt cọc chiếc ô tô có giá trị 3 tỷ đồng cho B nhằm nhận chuyển nhượng một thửa đất trị giá 2 tỷ đồng.
Các bên thỏa thuận nếu A vi phạm hợp đồng đặt cọc thì phải chịu phạt cọc 1 tỷ đồng và B phải trả lại chiếc ô tô cho A.
Sau đó, B đồng ý để A thế chấp chiếc ô tô cho ngân hàng nhằm vay 1 tỷ đồng.
Ngân hàng giữ giấy tờ đăng ký xe, được thông báo về việc ô tô là tài sản đặt cọc và giao dịch thế chấp được đăng ký theo đúng quy định pháp luật.
Khi phát sinh tranh chấp, Nghị quyết hướng dẫn xác định hiệu lực đối kháng với người thứ ba của đặt cọc phát sinh từ thời điểm B nhận được chiếc ô tô.
Theo đó, khi xử lý chiếc ô tô, B được ưu tiên thanh toán đối với khoản phạt cọc 1 tỷ đồng theo quy định tại Điều 308 Bộ luật Dân sự.
Ví dụ này cho thấy việc một tài sản đồng thời được sử dụng trong nhiều biện pháp bảo đảm có thể làm phát sinh quyền ưu tiên thanh toán khác nhau.
Tuy nhiên, đối với tài sản số, cần đánh giá riêng khả năng chuyển giao, nắm giữ, đăng ký biện pháp bảo đảm và thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng.
Không thể mặc nhiên áp dụng cách xác định thời điểm giao nhận ô tô cho mọi loại tài sản số, bởi đặc điểm pháp lý và phương thức kiểm soát các loại tài sản có thể khác nhau.
Một khoản nợ đến hạn, tài sản số đang bảo đảm nhiều nghĩa vụ được xử lý thế nào?
Theo khoản 3 Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản.
Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, trừ trường hợp các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận khác.
Ví dụ, một tài sản số được sử dụng để bảo đảm khoản vay và đồng thời được dùng làm tài sản đặt cọc trong một giao dịch khác.
Khi khoản vay đến hạn nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ và thuộc trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm, quyền lợi của các bên cùng nhận bảo đảm cần được xem xét theo quy định về xử lý tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán.
Trong trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chưa đến hạn, pháp luật cho phép thỏa thuận về việc sử dụng tài sản khác để bảo đảm nghĩa vụ chưa đến hạn.
Do đó, việc sử dụng một tài sản số để bảo đảm nhiều nghĩa vụ có thể phát sinh rủi ro dây chuyền khi một trong các nghĩa vụ không được thực hiện đúng hạn.
Cần lưu ý gì khi nhận đặt cọc bằng tài sản số đang bảo đảm khoản nợ?
Đây là vấn đề người nhận đặt cọc cần đặc biệt quan tâm trước khi đồng ý nhận tài sản đang được sử dụng để bảo đảm một khoản nợ khác.
Đối với tài sản số đã được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ khác, người nhận đặt cọc cần kiểm tra đầy đủ tình trạng pháp lý trước khi giao kết hợp đồng.
Thứ nhất, xác định quyền sở hữu và quyền định đoạt tài sản. Bên đặt cọc phải có quyền hợp pháp đối với tài sản và việc tiếp tục sử dụng tài sản không được trái quy định pháp luật.
Thứ hai, kiểm tra nghĩa vụ đang được bảo đảm. Cần làm rõ tài sản đang bảo đảm khoản nợ nào, giá trị nghĩa vụ, thời hạn thực hiện và phương thức xử lý tài sản.
Thứ ba, xác định quyền chuyển giao và nắm giữ. Đặc biệt đối với tài sản số, cần xem xét bên đặt cọc có thực sự được quyền chuyển giao tài sản và bên nhận có thể nắm giữ tài sản hợp pháp hay không.
Thứ tư, kiểm tra hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Cần xác định biện pháp bảo đảm trước đó đã phát sinh hiệu lực đối kháng hay chưa và quyền ưu tiên của bên nhận đặt cọc sẽ được xác lập theo cơ chế nào.
Thứ năm, thỏa thuận rõ trách nhiệm khi tài sản bị xử lý để trả nợ. Hợp đồng cần quy định phương án xử lý nếu khoản vay đến hạn, tài sản bị xử lý hoặc giá trị còn lại không đủ bảo đảm nghĩa vụ đặt cọc.
Thứ sáu, đánh giá biến động giá trị tài sản. Đối với tài sản số có giá trị thường xuyên biến động, cần xác định phương pháp định giá và phương án bổ sung hoặc thay thế tài sản bảo đảm nếu các bên có thỏa thuận phù hợp pháp luật.
Việc kiểm tra đầy đủ các nội dung này sẽ giúp hạn chế tranh chấp và tránh tình trạng một tài sản được sử dụng cho nhiều nghĩa vụ nhưng các bên không nắm rõ quyền lợi của mình.
Kết luận
Theo Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết 03/2026/NQ-HĐTP, tài sản số đang được sử dụng để bảo đảm khoản nợ có thể được xem xét tiếp tục dùng làm tài sản đặt cọc nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật.
Tuy nhiên, việc một tài sản được phép bảo đảm nhiều nghĩa vụ không đồng nghĩa với việc chủ sở hữu được tự do chuyển giao tài sản trong mọi trường hợp.
Đặc biệt, khi phát sinh tranh chấp, quyền ưu tiên thanh toán không chỉ phụ thuộc vào thời điểm giao kết hợp đồng mà còn liên quan đến hiệu lực đối kháng với người thứ ba của từng biện pháp bảo đảm.
Vì vậy, trước khi nhận đặt cọc bằng tài sản số đang bảo đảm một khoản nợ khác, các bên cần kiểm tra tình trạng pháp lý, quyền định đoạt, khả năng chuyển giao và thứ tự ưu tiên thanh toán nhằm hạn chế rủi ro.
Công ty Luật TNHH LH Legal cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát hợp đồng, đánh giá các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và hỗ trợ giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản số, hợp đồng đặt cọc và nghĩa vụ dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Nếu bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn pháp luật, vui lòng liên hệ qua các kênh dưới đây: