Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang tác động sâu rộng đến nền kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn chưa có một hành lang pháp lý cụ thể. Vì vậy, việc xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ số là điều rất cần thiết.

Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số đã được xây dựng với nhiều quy định quan trọng, liên quan đến hoạt động sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ số. Bên cạnh những chính sách hỗ trợ và ưu đãi, Dự thảo Luật cũng đề ra các nghĩa vụ, trách nhiệm mà doanh nghiệp cần tuân thủ nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp công nghệ số.
Nhằm giúp các doanh nghiệp nắm được những nội dung quan trọng của Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số, LHLegal đã tổng hợp một số điều cần lưu ý trong bài viết này. Thông qua bài viết, các doanh nghiệp có sự chuẩn bị phù hợp về nhiều mặt, đặc biệt là hành trang kiến thức về pháp lý trong quá trình triển khai và vận hành hoạt động kinh doanh.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số (“Dự thảo Luật CNCNS”) đặt ra các quy định để quản lý và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp công nghệ số tại Việt Nam. Cụ thể, theo Điều 1, phạm vi điều chỉnh của Luật này bao gồm:
- Các hoạt động trong ngành công nghiệp công nghệ số;
- Sản phẩm và dịch vụ công nghệ số;
- Các biện pháp đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp công nghệ số;
- Quyền và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ số.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: Luật này không áp dụng cho các hoạt động sản xuất và cung cấp công nghệ số phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia (theo khoản 2 Điều 1 Dự thảo Luật CNCNS).
Theo Điều 2 Dự thảo Luật này, tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ số đều phải tuân thủ theo luật này.
Các loại hình hoạt động công nghiệp công nghệ số
Căn cứ vào Điều 7 Dự thảo Luật CNCNS, hoạt động công nghiệp công nghệ số bao gồm 02 hoạt động chính sau:
(1) Hoạt động công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ số;
Theo Điều 8 Dự thảo Luật này, hoạt động này bao gồm các hoạt động:
- Công nghiệp sản xuất sản phẩm phần cứng;
- Công nghiệp sản xuất phần mềm;
- Công nghiệp sản xuất sản phẩm nội dung số;
- Công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ mới quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật này.
(2) Hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ số.
Theo Điều 9 Dự thảo Luật này, hoạt động này bao gồm các hoạt động:
- Tư vấn, cung cấp, xuất nhập khẩu, phân phối, đào tạo, chuyển giao, tích hợp hệ thống, lắp đặt, sửa chữa, bảo trì, bảo hành, quản trị, vận hành và các dịch vụ liên quan đến sản phẩm phần cứng, phần mềm, nội dung số và các công nghệ mới quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật này;
- Thu thập, lưu trữ, kinh doanh, khai thác, phân tích, xử lý và các hoạt động khác liên quan đến dữ liệu số trong công nghiệp công nghệ số.
Dự thảo Luật CNCNS phân chia ngành công nghiệp công nghệ số thành hai mảng chính: sản xuất và dịch vụ. Mỗi mảng bao gồm nhiều hoạt động cụ thể, từ việc tạo ra sản phẩm vật lý đến việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến dữ liệu số.

Dự thảo Luật CNCNS chia ngành công nghiệp công nghệ số thành sản xuất và dịch vụ
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động công nghiệp công nghệ số
Dự thảo Luật CNCNS đặt ra quy định nghiêm ngặt để đảm bảo hoạt động công nghiệp công nghệ số diễn ra một cách lành mạnh và có trách nhiệm. Cụ thể tại Điều 6, một số hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động công nghiệp công nghệ số bao gồm:
- Lợi dụng hoạt động công nghiệp công nghệ số để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây thiệt hại đến tài nguyên, môi trường, sức khỏe con người; trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
- Sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, cung cấp, trao đổi và chia sẻ dữ liệu công nghiệp công nghệ số trái với quy định của pháp luật.
- Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; chiếm đoạt, chuyển nhượng, chuyển giao bất hợp pháp kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số.
- Cản trở việc huy động nguồn lực công nghiệp công nghệ số phục vụ các hoạt động bảo đảm quốc phòng, an ninh, cơ yếu, khẩn cấp, phòng chống thiên tai của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền; cản trở hoạt động công nghiệp công nghệ số hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Lợi ích của các doanh nghiệp tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp công nghệ số
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp khi tham gia hoặc có liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ số là quyền lợi mà họ được hưởng. Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số đã đề cập đến một số lợi ích dành cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích sự tham gia của họ, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp công nghệ số.
(1) Ưu đãi về đầu tư và tài chính
- Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế, tài chính, đất đai, đầu tư theo quy định tại Điều 4 và Điều 20;
- Được hỗ trợ tín dụng theo quy định tại Điều 21;
(2) Doanh nghiệp được hỗ trợ để phát triển theo Điều 19 và Điều 61:
- Được hỗ trợ tư vấn, sử dụng các kết cấu hạ tầng dùng chung được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước;
- Được hỗ trợ tư vấn, tham gia cơ chế thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số;
- Được hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu phát triển, sản xuất mẫu thử, xây dựng và đánh giá tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, dịch vụ công nghệ số;
- Được hướng dẫn, hỗ trợ xác định sản phẩm, dịch vụ công nghệ số sản xuất trong nước để hưởng các chính sách ưu tiên, ưu đãi theo quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan;
- Được hỗ trợ cung cấp các thông tin về thị trường;
- Được hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm và doanh nghiệp.
- Được hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện chương trình hỗ trợ nghiên cứu phát triển, sản xuất mẫu sản phẩm công nghệ số trọng điểm, trọng yếu trên cơ sở phân cấp ngân sách Trung ương và địa phương, đẩy mạnh thu hút các nguồn lực xã hội.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được sử dụng miễn phí phòng thí nghiệm dùng chung và hạ tầng thông tin khác để phục vụ nghiên cứu – phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số.
(3) Hưởng chính sách thị trường và thương mại
- Doanh nghiệp được hỗ trợ để phát triển thị trường trong nước và quốc tế, bao gồm cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ tài chính khi mở rộng thị trường nước ngoài theo Điều 16 và Điều 17.
- Chính sách ưu tiên mua sắm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, được quy định tại Điều 18.
(4) Được hỗ trợ về nhân lực và đào tạo để phát triển trong ngành công nghiệp công nghệ số
Dựa trên Điều 34, Điều 35 và Điều 36 Dự thảo Luật CNCNS, Nhà nước có các chính sách để hỗ trợ đào tạo, phát triển và ưu đãi cho nguồn nhân lực công nghệ số đạt được chất lượng cao.
(5) Được quản lý và khai thác dữ liệu số
- Doanh nghiệp có quyền thu thập, lưu trữ, xử lý, cung cấp, chia sẻ, giao dịch dữ liệu số trong công nghiệp công nghệ
- Khoản 2 Điều 24 Dự thảo Luật CNCNS công nhận quyền được chuyển nhượng, kinh doanh dữ liệu số trong công nghiệp công nghệ số của các tổ chức, cá nhân. Nhưng cần lưu ý rằng việc chuyển nhượng, kinh doanh dữ liệu số phải tuân theo quy định của Luật CNCNS và pháp luật khác có liên quan.
- Được đối xử công bằng trong tiếp cận dữ liệu mở của cơ quan nhà nước.
Trách nhiệm của các doanh nghiệp tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp công nghệ số
Song song với các quyền lợi được hưởng thì doanh nghiệp khi tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp công nghệ số cũng có trách nhiệm và nghĩa vụ cần phải thực hiện. Doanh nghiệp cần phải nắm rõ về trách nhiệm để thực hiện đúng quy định pháp luật, tránh gây ra những sai sót trong quá trình tham gia hoặc hoạt động có liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ số.
Trách nhiệm hàng đầu của doanh nghiệp là phải bảo đảm an toàn, an ninh trong hoạt động công nghiệp công nghệ số. Trách nhiệm này được quy định cụ thể tại Điều 5 Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số. Theo đó, khi tham gia hoặc có liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ số, các doanh nghiệp có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ quy định pháp luật về an toàn thông tin mạng, về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu số, đặc biệt là dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước, tuân thủ quy định pháp luật về các vấn đề khác có liên quan đến hoạt động công nghiệp công nghệ số.

Doanh nghiệp có trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh trong hoạt động CNCNS
Đối với các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, sở hữu và cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng yếu còn có trách nhiệm và nghĩa vụ được quy định tại khoản 4 Điều 13:
“(i) phải được chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được bán, xuất khẩu, chuyển giao sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng yếu cho đối tác nước ngoài;
(ii) Khi bán vốn điều lệ cho đối tác nước ngoài từ 25% trở lên dù là mua trực tiếp hoặc gián tiếp cũng phải được chấp thuận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải bảo đảm tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ”
Theo khoản 1 Điều 25 Dự thảo Luật CNCNS, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ số có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng có thể chuyển dữ liệu của mình sang các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số tương tự do tổ chức hoặc cá nhân khác cung cấp. Đồng thời, doanh nghiệp không được áp đặt ràng buộc thương mại, kỹ thuật, hợp đồng hay bất kỳ biện pháp nào gây cản trở hoặc hạn chế quyền chuyển dữ liệu của khách hàng.
Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng dữ liệu số trong công nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp có trách nhiệm tự đánh giá và công bố chất lượng dữ liệu số trong sản phẩm, dịch vụ công nghệ số theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Dự thảo Luật CNCNS (dựa trên 3 tiêu chí chính và các tiêu chí khác tùy vào từng trường hợp).
Để Chính phủ có thể quản lý được luồng dữ liệu số xuyên biên giới, doanh nghiệp hoạt động công nghiệp công nghệ số tại Việt Nam có trách nhiệm cung cấp thông tin về dữ liệu số lưu chuyển xuyên biên giới theo quy định tại Điều 29. Quy định này không áp dụng đối với doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam thực hiện hoạt động trung gian dữ liệu số mà không phục vụ cho các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng tại Việt Nam.
Theo khoản 2 Điều 47 Dự thảo Luật CNCNS, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, bao gồm tái chế, xử lý sản phẩm thải bỏ, và áp dụng các quy trình giảm phát thải trong sản xuất.
Để phục vụ cho công tác quản lý cơ sở dữ liệu và tạo lập, thu thập dữ liệu phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu công nghiệp công nghệ số của Nhà nước, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan nhà nước trong việc cung cấp dữ liệu, thông tin về hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Nghĩa vụ này được quy định tại Điều 52 và Điều 53 Dự thảo Luật CNCNS.
Nếu bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn pháp luật, vui lòng liên hệ qua các kênh dưới đây: