Trong bối cảnh chuyển đối số đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ nhưng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực này vẫn còn mơ hồ, chưa thực sự vững chắc, việc tạo ra khung pháp lý vững chắc để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghệ số tại Việt Nam là việc làm rất cần thiết, phù hợp với tình hình thực tiễn và cả trong tương lai. Luật Công nghiệp Công nghệ số đang được kỳ vọng là hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động trong ngành này.

Tuy nhiên, nếu không được xây dựng và thực thi một cách linh hoạt, luật này cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Những rủi ro pháp lý, khi áp dụng luật này là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng. Trong bài viết này, LHLegal sẽ phân tích những thách thức chính trong quá trình thực thi Luật Công nghiệp Công nghệ số tại Việt Nam.

Những thách thức lớn khi áp dụng Luật Công nghiệp Công nghệ số

Khó khăn trong việc tuân thủ các quy định pháp lý

Luật Công nghiệp công nghệ số có phạm vi rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, thuế, lao động,… Tuy nhiên, các quy định về các lĩnh vực này chưa được đồng bộ, dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định trong pháp luật hiện hành như Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư,… Do đó, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng quy định pháp luật trong thực tiễn khi thực hiện các công việc liên quan đến lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, có thể dẫn đến trường hợp áp dụng không đúng quy định hoặc hiểu sai tinh thần của các quy định.

Đồng thời, hiện nay chưa có cơ quan nào quản lý tập trung để giám sát việc thực thi Luật Công nghiệp công nghệ số. Điều này có nguy cơ dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan ban ngành cùng quản lý một vấn đề, gây nên sự chồng chéo về trách nhiệm. Hệ thống giám sát về chuyển giao công nghệ, bảo vệ dữ liệu số, quản lý nền tảng số hiện nay chưa đủ mạnh, chưa hiệu quả. Từ đó, có thể khiến các công ty nước ngoài lợi dụng để chiếm lĩnh thị trường, trong khi doanh nghiệp Việt Nam không được hưởng lợi từ việc tiếp nhận công nghệ mới, doanh nghiệp Việt Nam chậm đổi mới sáng tạo và bị lép vế trong cuộc cạnh tranh với các tập đoàn công nghệ lớn. Nếu không có hệ thống giám sát mạnh, công nghệ số có thể bị lợi dụng cho các hoạt động phi pháp như lừa đảo tài chính, rửa tiền, đánh bạc trực tuyến.

Một số ví dụ thực tế từ hệ quả của việc không có hệ thống giám sát mạnh có thể kể đến như:

  • Nhiều ứng dụng cho vay ngang hàng (P2P Lending) bị lợi dụng để cho vay nặng lãi, tín dụng đen, gây hệ lụy cho xã hội;
  • Công nghệ deepfake có thể bị lợi dụng để tạo video giả mạo, làm gia tăng tội phạm công nghệ cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cá nhân, tổ chức, gây mất an toàn cho xã hội, môi trường kinh doanh công nghệ số bị ảnh hưởng và làm suy giảm niềm tin của người dùng.

Lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bảo mật dữ liệu, thương mại hóa các sản phẩm công nghiệp số là những lĩnh vực thường xảy ra các vi phạm trên môi trường số, đặc biệt là các vi phạm có tính chất xuyên biên giới. Nhưng Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số lại chưa có quy định cụ thể, thực tế về chế tài để xử phạt. Điều này dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, nền kinh tế và môi trường cạnh tranh công bằng.

Thách thức về bảo mật và quản lý dữ liệu số

Doanh nghiệp công nghệ số hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số cần thu thập, xử lý dữ liệu khách hàng là chủ yếu. Dữ liệu số là tài sản quan trọng, đặc biệt  nhưng hiện nay, Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số lại chưa quy định cụ thể về quyền sở hữu dữ liệu số. Từ đó, câu hỏi được đặt ra rằng: “Dữ liệu do doanh nghiệp thu thập từ người dùng thuộc quyền sở hữu của ai?”, dẫn đến hệ quả là doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng không biết dữ liệu họ đang sử dụng có hợp pháp hay không, dẫn đến rủi ro pháp lý khi khai thác dữ liệu thương mại.

Bên cạnh đó, khi thu thập và lưu trữ dữ liệu số mà không có biện pháp bảo mật và quản lý dữ liệu số một cách chặt chẽ có nguy cơ khiến cho những khách hàng bị tấn công mạng, lộ thông tin. Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số vẫn chưa hướng dẫn về việc bảo mật và quản lý dữ liệu số chặt chẽ. Do đó, rủi ro mất an toàn, rò rỉ và đánh cắp dữ liệu từ các cuộc tấn công mạng sẽ có nguy cơ xuất hiện, gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín và tài chính của doanh nghiệp.

Dữ liệu số có thể dễ dàng được lưu trữ trên hệ thống đám mây quốc tế, nhưng hiện nay chưa có quy định rõ ràng về việc lưu trữ và chuyển dữ liệu ra nước ngoài trong Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số.

Theo khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng 2018 được hướng dẫn bởi Chương V Nghị định 53/2022/NĐ-CP, một số loại dữ liệu quan trọng như thông tin cá nhân, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam phải được lưu trữ tại Việt Nam, nhưng thực tế các nền tảng xuyên biên giới như Google, Meta vẫn lưu dữ liệu tại máy chủ nước ngoài. Vậy khi có tranh chấp về quyền liên quan đến dữ liệu từ vấn đề lưu trữ dữ liệu giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, luật nào sẽ được áp dụng? Chính vì không có quy định rõ ràng nên doanh nghiệp có thể bị hạn chế khả năng mở rộng ra thị trường quốc tế hoặc gặp rủi ro khi sử dụng dịch vụ lưu trữ đám mây nước ngoài.

Hiện nay, Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số chỉ quy định về tiêu chuẩn của sản phẩm, hàng hóa được tạo ra, sản xuất trong lĩnh vực này nhưng lại chưa có quy định về tiêu chuẩn bảo mật và mã hóa dữ liệu để các doanh nghiệp tuân thủ theo. Trong khi pháp luật của các quốc gia ở châu Âu đã ban hành quy định về tiêu chuẩn này, cụ thể trong Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) với các yêu cầu bảo mật nghiêm ngặt. Việc không có tiêu chuẩn bảo mật chung dẫn đến hệ quả là mỗi doanh nghiệp sẽ tự xây dựng hệ thống bảo mật riêng, từ đó thiếu tính nhất quán trong việc bảo mật dữ liệu và làm tăng nguy cơ lỗ hổng bảo mật.

Dự thảo Luật CNCNS chưa có quy định về tiêu chuẩn bảo mật và mã hóa dữ liệu

Chi phí tuân thủ và tác động tài chính đối với doanh nghiệp

Chi phí tuân thủ và tác động tài chính đối với doanh nghiệp là một trong những thách thức lớn mà cộng đồng doanh nghiệp sẽ phải đối mặt. Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số đặt ra nhiều quy định về bảo mật dữ liệu, sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin, quản lý nền tảng số đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư để có thể đáp ứng các quy định này.

Việc đầu tư bao gồm nâng cấp hệ thống mã hóa dữ liệu; hệ thống bảo mật dữ liệu; đăng ký bảo hộ bản quyền thuật toán, phần mềm, sáng chế công nghệ, nhãn hiệu số và dữ liệu huấn luyện các công cụ AI; hệ thống kiểm duyệt nội dung. Bên cạnh đầu tư vào các hệ thống, công cụ, các doanh nghiệp số còn phải đầu tư vào con người như đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nhân lực, quản lý nguồn lực số.

Ngoài ra, chi phí tuân thủ lại còn bao gồm thuế. Chi phí đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ số có thể lên đến hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Với các doanh nghiệp startup, doanh nghiệp vừa và nhỏ thì đây là chi phí lớn, có thể gây áp lực lên các doanh nghiệp, dễ dẫn đến việc các doanh nghiệp có khả năng tài chính thấp gặp nguy cơ bị đào thải khỏi thị trường, giảm cơ hội sáng tạo và đổi mới trong ngành công nghệ số.

Thiếu nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ số

Ngành công nghiệp công nghệ số ở Việt Nam hiện nay đã có sự phát triển, tuy nhiên vẫn là ngành công nghiệp còn non trẻ. Ngành công nghiệp công nghệ số đòi hỏi nguồn nhân lực có chuyên môn cao về trí tuệ nhân tạo, blockchain,… nhưng hiện nay nguồn lực này tại Việt Nam chưa đáp ứng đủ. Song song đó, phúc lợi cho nhân viên tại các công ty trong nước không cao như phúc lợi từ các công ty nước ngoài, do đó, nhân lực Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ số có xu hướng chuyển sang làm việc tại nước ngoài hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Chính vì vậy, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp số trong nước. Đồng thời, hiện nay Việt Nam lại chưa có chương trình đào tạo và phát triển nhân lực công nghệ số, các khóa học chuyên sâu về công nghệ số.

Ảnh hưởng của thách thức đến doanh nghiệp công nghệ

Rủi ro pháp lý khi vi phạm quy định

Đứng trước tình trạng các quy định trong Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số còn chưa rõ ràng, một số quy định mâu thuẫn với các quy định hiện hành khác có liên quan, việc các doanh nghiệp hiểu không đúng, không đầy đủ, bối rối trong việc áp dụng quy phạm pháp luật là điều không thể tránh khỏi. Tình trạng này gây ra hậu quả là một số doanh nghiệp vi phạm quy định trong Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số một cách trực tiếp hoặc cũng có thể là gián tiếp.

Khi vi phạm bất kỳ quy định ở lĩnh vực nào, các chủ thể dù là cá nhân hay tổ chức cũng đều phải đối mặt với trách nhiệm, như xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hay có cả trách nhiệm hình sự, và lĩnh vực công nghiệp công nghệ số cũng không ngoại lệ. Vi phạm các quy định trong Luật Công nghiệp Công nghệ số có thể dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng cho các doanh nghiệp số như:

  • Việc xử phạt hành chính nặng nề, ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp;
  • Bồi thường thiệt hại khi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bảo mật dữ liệu.
  • Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nghiêm trọng;
  • Đình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh đối với doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng;
  • Doanh nghiệp mất uy tín, mất khách hàng, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dài hạn.

Vi phạm quy định trong Luật CNCNS có thể bị xử phạt hành chính nặng, ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường số, sự phát triển và đổi mới sáng tạo trong ngành

Trong bối cảnh nền kinh tế số toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, các doanh nghiệp cần phải chuyển đổi số để có thể bắt kịp với xu thế, tốc độ phát triển của xã hội thì mới có thể tồn tại và phát triển lâu dài, đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Việc áp dụng Luật Công nghiệp Công nghệ số có thể gây ra nhiều rủi ro cạnh tranh cho doanh nghiệp trong môi trường số. Dưới đây là một số rủi ro về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường số:

  • Việc chuyển đổi số đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư mạnh vào hệ thống quản lý, công nghệ bảo mật, kiểm toán pháp lý, khiến chi phí hoạt động tăng cao. Chi phí hoạt động cao nên một số các doanh nghiệp sản xuất, tạo ra sản phẩm, dịch vụ phải tăng giá thành. Điều đó làm giảm khả năng cạnh tranh của một số doanh nghiệp.
  • Luật Công nghiệp Công nghệ số có thể yêu cầu doanh nghiệp lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, hạn chế khả năng vận hành xuyên biên giới, các doanh nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh với công ty nước ngoài trong việc “xuất khẩu” dịch vụ số.

Doanh nghiệp có thể bị giới hạn trong thị trường nội địa, giảm cơ hội tăng trưởng.

  • Chi phí hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số dù đã nhận được một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư về thuế và tài chính trong Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số nhưng vẫn còn cao. Doanh nghiệp có thể phải chi quá nhiều cho việc tuân thủ luật, khiến họ không còn đủ nguồn lực để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D). Từ đó làm giảm khả năng đổi mới sản phẩm, chậm bắt kịp xu hướng công nghệ mới.

Việc áp dụng Luật Công nghiệp Công nghệ số tại Việt Nam là bước đi cần thiết nhằm định hình và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số. Tuy nhiên, quá trình này chắc chắn sẽ đối mặt với không ít thách thức như hạ tầng công nghệ còn chưa đồng bộ, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Để luật thực sự phát huy hiệu quả, cần có chiến lược triển khai cụ thể, lộ trình rõ ràng và sự nỗ lực đồng hành từ cả khu vực công lẫn tư nhân. Chỉ khi vượt qua được những rào cản này, Việt Nam mới có thể khai thác tối đa tiềm năng của công nghiệp công nghệ số và nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.

Nếu bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn pháp luật, vui lòng liên hệ qua các kênh dưới đây:

Thông tin liên hệ
📞 Hotline 1900 2929 01
📝 Đăng ký tư vấn Tại đây
🌐 Website vietnamtechlaw.vn
Địa chỉ
📍 Hà Nội 51 Nguyễn Khắc Hiếu, Phường Ba Đình
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận