Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến việc hoàn thiện, xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp CNTT, công nghiệp công nghệ số trong nước. Các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước gần đây tiếp tục đề ra nhiều chủ trương, định hướng quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế về công nghiệp công nghệ số.

Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ chính là kết quả của sự thể chế hóa đầy đủ chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước của Đảng và phù hợp với “xu thế” phát triển trong kỷ nguyên công nghệ số hiện nay. Dự thảo Luật sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển công nghiệp ICT, công nghiệp công nghệ số; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp này; đóng góp vào chuyển đổi số, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; khai thác hiệu quả, làm chủ các công nghệ chủ chốt của cách mạng 4.0… để giải quyết các bài toán phát triển của Việt Nam.
Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết về việc Doanh nghiệp công nghệ cần chuẩn bị gì khi Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số được thông qua. Hy vọng hữu ích đối với Quý bạn đọc.
Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số là gì?
Luật Công nghiệp công nghệ số quy định về công nghiệp công nghệ số, bao gồm: Hoạt động công nghiệp công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; bảo đảm, thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ số; quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan đến công nghiệp công nghệ số. Luật này không quy định về hoạt động sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ số cho mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu.
Đối tượng áp dụng của luật là các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến công nghiệp công nghệ số.
Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số có bố cục gồm 06 chương, 90 điều. Cụ thể:
- Chương I. Những quy định chung (gồm 06 điều: từ Điều 1 đến Điều 6);
- Chương II. Hoạt động công nghiệp công nghệ số và sản phẩm, dịch vụ công nghệ số (gồm 07 điều: từ Điều 7 đến Điều 13);
- Chương III. Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ số (gồm 14 mục, 45 điều: từ Điều 14 đến Điều 58);
- Chương IV. Thúc đẩy, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số (gồm 05 mục, 27 điều: từ Điều 59 đến Điều 85);
- Chương V. Quản lý nhà nước về công nghiệp công nghệ số (gồm 02 điều: Điều 86 và Điều 87);
- Chương VI. Điều khoản thi hành (gồm 03 điều: từ Điều 88 đến Điều 90).
Luật ban hành nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế đóng góp lớn vào kinh tế đất nước; Việt Nam trở thành môi trường thuận lợi nhất để nuôi dưỡng và phát triển doanh nghiệp công nghệ số. Phát triển ngành công nghiệp công nghệ số với trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang sáng tạo, thiết kế, sản xuất tại Việt Nam; góp phần xây dựng chính phủ số, động lực phát triển kinh tế số, xã hội số.
Những tác động của Luật Công nghiệp Công nghệ số đến doanh nghiệp công nghệ
Luật Công nghiệp công nghệ số tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp công nghệ số với trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, từng bước chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang sáng tạo, thiết kế, tích hợp, sản xuất, làm chủ công nghệ lõi tại Việt Nam.
Quy định về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư
Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số hướng tới việc thúc đẩy nền kinh tế số, nhưng hiện tại vẫn chưa quy định cụ thể về bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư của doanh nghiệp một cách toàn diện. Điều này có thể tạo ra khoảng trống pháp lý, đặc biệt trong bối cảnh các rủi ro về rò rỉ dữ liệu, lạm dụng thông tin và ứng dụng AI ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam đã có hai văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh vấn đề này là Luật An ninh mạng 2018 và Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Luật An ninh mạng 2018 tập trung vào việc bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng, trong đó có các quy định về lưu trữ dữ liệu quan trọng, kiểm soát và xử lý các hành vi xâm phạm dữ liệu và quyền riêng tư trên không gian mạng (nơi diễn ra cá hoạt động về công nghệ số). Mặc dù luật này không đi sâu vào bảo vệ quyền riêng tư của doanh nghiệp hoặc tổ chức hoạt động lĩnh vực công nghệ số, nhưng nó đặt ra nền tảng pháp lý để ngăn chặn các hành vi đánh cắp, phát tán dữ liệu trái phép.
Trong khi đó, Nghị định 13/2023/NĐ-CP được xem là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, thiết lập các nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này quy định một số quyền của chủ thể dữ liệu và biện pháp bảo vệ dữ liệu như:
- Quyền đồng ý: Chủ thể dữ liệu được đồng ý hoặc không đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân của mình
- Quyền truy cập: Chủ thể dữ liệu được truy cập để xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân của mình
- Quyền tự bảo vệ: Chủ thể dữ liệu có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan và Nghị định này, hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Dân sự.
- Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại: Chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi xảy ra vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình…
Như vậy, mặc dù Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số chưa quy định chi tiết, nhưng Luật An ninh mạng và Nghị định 13/2023 đã phần nào lấp đầy khoảng trống pháp lý hiện tại. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực số vẫn phải tuân thủ các quy định này để đảm bảo tính hợp pháp. Tuy nhiên, việc thiếu một khung pháp lý thống nhất trong luật chuyên ngành có thể dẫn đến sự chồng chéo hoặc mâu thuẫn khi áp dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như công nghiệp bán dẫn hay tài sản số (AI, blockchain, hay dữ liệu lớn (big data)).
Do đó, để tăng cường hiệu quả bảo vệ dữ liệu, Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số nên bổ sung các điều khoản rõ ràng hơn, đồng bộ với Luật An ninh mạng và Nghị định 13/2023/NĐ-CP, đồng thời tham khảo từ các quy định quốc tế như GDPR (EU) hoặc CCPA (Mỹ). Điều này sẽ giúp Việt Nam vừa thúc đẩy phát triển công nghiệp số, vừa đảm bảo an toàn thông tin và quyền riêng tư của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Điều kiện kinh doanh và cấp phép hoạt động
Khi Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số được hoàn thiện và ban hành, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này sẽ phải đáp ứng những điều kiện kinh doanh và cấp phép chặt chẽ hơn, nhằm đảm bảo phù hợp với “lĩnh vực mới” phức tạp này. Theo đó, Doanh nghiệp hoạt động cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
2.1 Điều kiện chung:
Đăng ký kinh doanh và phạm vi hoạt động
Đối với doanh nghiệp hoạt động ngành nghề trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số bao gồm:
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nền tảng số (VD: sàn thương mại điện tử, ứng dụng fintech).
- Doanh nghiệp phát triển phần mềm, AI, IoT, blockchain.
- Doanh nghiệp xử lý dữ liệu lớn (Big Data) hoặc cung cấp dịch vụ điện toán đám mây.
- Doanh nghiệp lớn hoạt động sản xuất chất bán dẫn (công nghiệp bán dẫn)
Yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh có điều kiện (nếu thuộc danh mục quy định). Và phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp,.. và pháp luật liên quan mới được cấp phép hoạt động.
Vốn và năng lực tài chính
Một số lĩnh vực có thể yêu cầu vốn pháp định vì mức độ quy mô hoạt động rất lớn, tác động đến nền kinh tế. (VD: Tài sản số, Công nghiệp bán dẫn)
Doanh nghiệp cần chứng minh khả năng tài chính để đảm bảo hoạt động lâu dài.

Doanh nghiệp cần chứng minh khả năng tài chính để hoạt động lâu dài
Tuân thủ quy định về dữ liệu và bảo mật
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số phải có chính sách bảo mật rõ ràng, công khai cách thu thập và sử dụng dữ liệu.
Thực hiện đánh giá tác động bảo vệ dữ liệu nếu xử lý dữ liệu nhạy cảm. (VD: Dữ liệu cá nhân quan trọng, Dữ liệu liên quan đến an ninh quốc gia,…)
Tuân thủ quy định pháp luật về dữ liệu và bảo mật. (Các văn bản quy phạm pháp luật đã có và hình thành trong tương lai)
2.2 Điều kiện chuyên ngành:
Đối với từng lĩnh vực cụ thể, các Doanh nghiệp hoạt động ngoài việc phải đáp ứng điều kiện chung, cần phải thoả mãn quy định pháp luật chuyên ngành. Điển hình như:
- Đối với Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài sản số (blockchain,..) cần đáp ứng các quy định về pháp luật Ngân hàng, pháp luật dân sự,.. và các văn bản luật khác.
- Doanh nghiệp hoạt động về trí tuệ nhân tạo (AI, IOT,…) cần đáp ứng điều kiện về Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Chuyển giao công nghệ,..
- Hoặc đối với doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất vi mạch bán dẫn cần thoả mãn các điều kiện về Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Bảo vệ môi trường,.. và các quy định pháp luật về Công nghiệp bán dẫn sắp được ban hành trong tương lai.
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp công nghệ
Việc phát triển và ứng dụng công nghệ vào đời sống mang lại rất nhiều lợi ích, tuy nhiên song song đó cũng tồn tại rất nhiều rủi ro. Trách nhiệm của nhà sản xuất, phát triển công nghệ là gì vẫn là một câu hỏi lớn.
Trách nhiệm về sản phẩm của Doanh nghiệp công nghệ thường dựa trên lỗi (sơ suất), lỗi thiết kế, lỗi sản xuất, không cảnh báo, trình bày sai và vi phạm bảo hành khó có thể áp dụng. Hầu hết các nhà sản xuất đã loại trừ trách nhiệm của mình. Bởi trong trường hợp này, giữa những công ty công nghệ và người dùng thường có những hợp đồng hay điều khoản sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, hầu hết các điều khoản này đều là những điều khoản có lợi cho các công ty công nghệ và điều khoản loại trừ trách nhiệm của họ. Những điều khoản này được xem là những “điểm mù” dành cho người sử dụng. Chẳng hạn như khi chúng ta tải phần mềm ChatGPT thì trong thời điểm đăng ký/cài đặt chúng ta phải chấp nhận nội dung sử dụng và trong nội dung đó có rất nhiều điều khoản về loại trừ trách nhiệm của các công ty công nghệ. Trên thực tiễn cũng đã có những trường hợp xảy ra thiệt hại khi sử dụng các công nghệ chatbot AI như ChatGPT này.
Tại Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số đã quy định những điểm mới về trách nhiệm pháp lý đối với Doanh nghiệp hoạt động công nghệ như sau:
- Tổ chức, cá nhân hoạt động công nghiệp công nghệ số có trách nhiệm đảm bảo an toàn dữ liệu số đầu vào và dữ liệu số đầu ra tuân thủ các quy định pháp luật về dữ liệu và dữ liệu cá nhân. (khoản 2 Điều 26 Dự thảo Luật CNCNS)
- Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm tự đánh giá và công bố chất lượng dữ liệu số của “chính mình” trong sản phẩm, dịch vụ công nghệ số. (khoản 4 Điều 28 Dự thảo Luật CNCNS)
- Tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động công nghiệp công nghệ số bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời trên Hệ thống quản lý, thúc đẩy công nghiệp công nghệ số quốc gia. (khoản 2 Điều 53 Luật CNCNS)
Khi Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số được hoàn thiện, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với yêu cầu pháp lý chặt chẽ hơn, nhưng đồng thời cũng là cơ hội phát triển trong một khung pháp lý minh bạch.
Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp công nghệ số đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam áp dụng chiến lược và chính sách để cải tiến sản phẩm, mở rộng thị trường, và gia tăng doanh số. Công nghệ số ngày càng trở thành yếu tố quyết định vị thế và sức mạnh của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Những công nghệ số mới hiện tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế – xã hội như: Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây…
Cơ hội:
- Nền kinh tế của Việt Nam những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao với thị trường nội địa lớn và đa dạng, số lượng người tiêu dùng sử dụng công nghệ số ngày càng tăng và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại.
- Lãnh đạo Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin và Truyền thông đã chia sẻ tại Hội nghị “Đưa doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ra thế giới – Cơ hội và thách thức” ngày 17 tháng 10 năm 2024, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu lao động, trong đó có gần 500.000 kỹ sư. Cơ cấu ngành công nghiệp CNTT Việt Nam năm 2023, có khoảng 63% doanh nghiệp làm về phần cứng, điện tử, 17% doanh nghiệp làm về phần mềm, 14% doanh nghiệp làm về buôn bán, phân phối CNTT…
- Bên cạnh đó, khoảng 70% trên tổng số trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam cũng đang đào tạo nhóm ngành CNTT. Các trường đại học, cao đẳng đào tạo CNTT cũng bổ sung các chuyên ngành mới với xu hướng công nghệ toàn cầu như trí tuệ nhân tạo và an ninh mạng. Điều này cũng giúp tăng chất lượng và nguồn cung của nhân lực công nghệ thông tin có tay nghề cao ở nước ta.
- Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam có trên 64.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số. Trong đó có các doanh nghiệp có chiến lược phát triển phù hợp với cách mạng công nghệ 4.0 như VNPT với Chiến lược VNPT 4.0, Viettel có chiến lược dẫn dắt và lan tỏa về công nghệ, dịch vụ, mô hình kinh doanh, nghiên cứu sản xuất…
- Những năm gần đây các công ty đa quốc gia có xu thế dịch chuyển hoạt động sản xuất từ những nước có tình trạng bất ổn sang Việt Nam, nắm bắt được cơ hội này chúng ta đã thu hút đầu tư của các doanh nghiệp công nghệ quốc tế. Năm 2021, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tăng 9,2% so với năm 2020, cho thấy môi trường đầu tư Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng, mở ra nhiều cơ hội hợp tác giao lưu cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Các hoạt động chuyển giao công nghệ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam tham gia vào sự phát triển chung của toàn cầu.
- Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số được kỳ vọng sẽ góp phần phát triển ngành công nghiệp công nghệ số với trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, từ đó góp phần xây dựng Chính phủ số, động lực phát triển kinh tế số, xã hội số.
Thách thức
- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghệ trong khu vực ASEAN là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Các nước ASEAN cũng có thế mạnh về nhân công giá rẻ, ngoài ra còn được sự hỗ trợ của nhà nước trong phát triển doanh nghiệp công nghệ như Trung Quốc hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp phát triển các công nghệ lõi nhằm giảm sự phụ thuộc nước ngoài. Bên cạnh đó, các nước khu vực còn bảo vệ thị trường trong nước bằng sự bảo hộ quốc gia.
- Để vượt qua thách thức cạnh tranh trong kỷ nguyên số, các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần tập trung vào những nhiệm vụ cốt lõi:
- Nâng cấp chất lượng sản phẩm/dịch vụ
- Phát triển năng lực sáng tạo và thiết kế công nghệ cao
- Đẩy mạnh nghiên cứu – phát triển (R&D) các giải pháp số đột phá, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), Tài sản số, Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây…
- Thực tế cho thấy, quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam mới chỉ khởi động trong vài năm gần đây, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc bắt kịp xu thế toàn cầu. Trong bối cảnh này, sự hỗ trợ từ Chính phủ thông qua các chính sách đồng bộ và khung pháp lý minh bạch là yếu tố then chốt để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, giúp doanh nghiệp trong nước có đủ nội lực vươn tầm khu vực.

Chuyển đổi số tại Việt Nam chỉ mới khởi động trong vài năm nên khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn
- Một thách thức lớn khác là sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng nước ngoài đối với các sản phẩm công nghệ số (phần cứng, phần mềm). Tình trạng này khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương trước những biến động thị trường quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Để chủ động hơn, các doanh nghiệp cần:
- Đa dạng hóa cơ hội kinh doanh;
- Cân bằng giữa thị trường nội địa và quốc tế;
- Xây dựng nền tảng thị trường trong nước vững chắc làm bệ đỡ trước những biến động toàn cầu.
- Giải pháp tổng thể đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực công nghệ và sự hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước thông qua các chính sách phát triển công nghiệp công nghệ số bền vững.
Doanh nghiệp công nghệ cần chuẩn bị gì để tuân thủ luật?
Khi Luật Công nghiệp Công nghệ số được ban hành, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị để vừa tuân thủ pháp luật, vừa tận dụng cơ hội phát triển. Dưới đây là phân tích chi tiết 4 yếu tố then chốt:
Rà soát và điều chỉnh chính sách pháp lý nội bộ
Để chuẩn bị cho việc áp dụng Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số (khi được thông qua), các doanh nghiệp công nghệ cần rà soát và điều chỉnh chính sách pháp lý nội bộ như sau:
- Xác định lĩnh vực luật tác động: Luật này sẽ tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, IoT, blockchain… Doanh nghiệp cần xem xét liệu mình thuộc nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp nào để từ đó có sự thay đổi về chính sách pháp lý phù hợp.
- Cập nhật quy định pháp luật và thuật ngữ pháp lý: Điều chỉnh chính sách pháp lý và đảm bảo các thuật ngữ như “dữ liệu số”, “nền tảng số”, “công nghệ số”… được hiểu đúng theo quy định mới.
Đầu tư vào bảo mật và quản lý dữ liệu
Doanh nghiệp công nghệ cần đầu tư vào bảo mật và quản lý dữ liệu, đồng thời điều chỉnh chính sách về dữ liệu và bảo mật phù hợp theo quy định Luật Công nghiệp công nghệ số:
- Tuân thủ quy định về quản lý dữ liệu: Doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo an toàn dữ liệu số đầu vào và dữ liệu số đầu ra tuân thủ các quy định pháp luật về dữ liệu và dữ liệu cá nhân.
- Có trách nhiệm tự đánh giá và công bố chất lượng dữ liệu số của “chính mình” trong sản phẩm, dịch vụ công nghệ số.
- Tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động công nghiệp công nghệ số bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời trên Hệ thống quản lý, thúc đẩy công nghiệp công nghệ số quốc gia.
- Doanh nghiệp cần minh bạch về chính sách lưu trữ, xử lý dữ liệu khách hàng, điều khoản hợp đồng với đối tác về chia sẻ dữ liệu.
Nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ nhân sự
Việc nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ nhân sự cũng là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp công nghệ tuân thủ pháp luật, giảm thiểu rủi ro và tận dụng cơ hội từ các quy định mới tại Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số.
Doanh nghiệp cần tổ chức những buổi đào tạo và phổ cập với đội ngũ nhân sự về quy định mới trong lĩnh vực công nghệ số được nêu tại Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số. Từ đó nâng cao nhận thức hiểu biết về sự thay đổi đối với lĩnh vực công nghệ số.
Đối với những ngành công nghệ mới, các doanh nghiệp cần hỗ trợ đội ngũ nhân sự trong việc tiếp cần, tìm hiểu, và đào tạo kỹ lưỡng, tránh trường hợp ứng dụng công nghệ mới một cách thiếu hiểu biết gây ra thiệt hại,.. hoặc vi phạm quy định pháp luật.
Tận dụng cơ hội từ chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
Tại Điều 4 Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số đã nêu rõ các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp công nghệ số được Nhà nước thực hiện bao gồm:
- Ưu đãi về đất đai, thuế, tài chính, đầu tư và các cơ chế ưu đãi khác để phát triển ngành công nghiệp công nghệ số nhằm phát huy vai trò nền tảng cho phát triển các ngành công nghiệp khác, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, tập trung chú trọng và có chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút đầu tư phát triển công nghệ số mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật, chuỗi khối, thực tại ảo/thực tại tăng cường và các công nghệ số mới khác.
- Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ số theo hướng bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn, giảm tiêu hao năng lượng, giảm phát thải, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ số thân thiện với môi trường, hài hoà với tiêu chuẩn của các nước có nền công nghiệp tiên tiến, phát triển trên thế giới.
- Huy động các nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ trong ngành công nghiệp công nghệ số; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ số, tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung nguồn lực để phát triển một số sản phẩm công nghệ số trọng điểm, trọng yếu.
- Tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghiệp công nghệ số; tăng cường chính sách đặt hàng đào tạo và thực hiện hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với cơ sở đào tạo và người học.
- Tạo điều kiện phát triển thị trường công nghiệp công nghệ số.
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về công nghiệp công nghệ số.
Với những sự ưu đãi và hỗ trợ trên, Luật Công nghiệp công nghệ số được xem là nền tảng pháp lý mạnh mẽ để giúp doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam phát triển nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số quốc gia.
LHLegal – Đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc tuân thủ Luật Công nghiệp Công nghệ số
Trong bối cảnh Dự thảo Luật Công nghiệp Công nghệ số đang dần hoàn thiện và chuẩn bị được thông qua, việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật mới trở thành yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp công nghệ. LHLegal tự hào là đơn vị tiên phong đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trên hành trình chuyển đổi số toàn diện và tuân thủ pháp lý vững chắc.

Với đội ngũ luật sư dày dạn kinh nghiệm, kết hợp cùng các chuyên gia pháp lý – kinh tế hàng đầu, bao gồm giảng viên trường đại học Luật và cựu cán bộ quản lý hành chính nhà nước, LHLegal không chỉ cung cấp giải pháp tư vấn pháp lý toàn diện mà còn góp phần xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
Chúng tôi không chỉ tư vấn pháp luật – chúng tôi kiến tạo niềm tin và giá trị pháp lý bền vững cho doanh nghiệp thời đại số.
Nếu bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn pháp luật, vui lòng liên hệ qua các kênh dưới đây: